NỘI DUNG CƠ BẢN LUẬT NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC SỐ 83/2015/QH13


Ngày cập nhật: 09/10/2017 2:17:30 CH

 

Ngày 25/6/2015, tại kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa XIII đã thông qua Luật ngân sách nhà nước (thay thế Luật ngân sách nhà nước  năm 2002). Luật có hiệu lực thi hành từ năm ngân sách 2017 (01/01/2017).

            I. SỰ CẦN THIẾT BAN HÀNH LUẬT

1. Những kết quả đạt được trong quá trình triển khai Luật NSNN năm 2002

Sau hơn 12 năm tổ chức thực hiện, Luật NSNN năm 2002 đã đi vào cuộc sống và đạt được nhiều kết quả quan trọng:

- Luật đã tạo khuôn khổ pháp lý để quản lý ngân sách nhà nước (NSNN) thống nhất theo nguyên tắc tập trung dân chủ. Chính sách thu ngân sách, định mức phân bổ chi NSNN, các chính sách, chế độ, tiêu chuẩn về chi NSNN do Trung ương thống nhất ban hành, áp dụng trong phạm vi cả nước, thu ngân sách được tập trung vào Kho bạc nhà nước và thực hiện phân cấp nguồn thu giữa các cấp ngân sách theo luật định; dự toán ngân sách được xây dựng từ cơ sở, được tổng hợp trình Quốc hội, HĐND các cấp ở địa phương xem xét, quyết định.

- Phân cấp quản lý NSNN tiếp tục đảm bảo được vai trò chủ đạo của ngân sách trung ương (NSTW). Các nguồn thu lớn, quan trọng của quốc gia được phân cấp 100% cho NSTW (các khoản thu từ dầu, khí[1]; các khoản thu từ hoạt động xuất nhập khẩu[2], thuế thu nhập của các đơn vị hạch toán toàn ngành,...).. NSTW đã đảm bảo thực hiện được các nhiệm vụ quan trọng của đất nước (đầu tư các chương trình, dự án hạ tầng quan trọng, bảo đảm nhiệm vụ chi quốc phòng, an ninh, đối ngoại,...) và hỗ trợ các địa phương khó khăn, chưa tự cân đối được ngân sách; trao quyền cho địa phương, tạo chủ động cho các cấp chính quyền địa phương trong việc quan tâm nuôi dưỡng nguồn thu, khai thác nguồn thu trên địa bàn.

- Cân đối NSNN chuyển biến theo hướng tích cực: giai đoạn 2004-2013 bình quân đạt trên 18%/năm và đến năm 2013, thu NSNN đã tăng gần 5,4 lần so với năm 2003. Cơ cấu chi NSNN đã bảo đảm ưu tiên cho chi đầu tư phát triển với tốc độ tăng bình quân trên 13,5%/năm, chiếm trên 20% tổng mức chi đầu tư toàn xã hội, đạt khoảng gần 8% GDP; chi cho lĩnh vực giáo dục - đào tạo, dạy nghề đạt 20%, chi lĩnh vực khoa học công nghệ đạt 2%, chi lĩnh vực văn hoá đạt trên 1,5% và chi sự nghiệp môi trường đạt trên 1% tổng chi NSNN. 

- Việc gắn quyền hạn với trách nhiệm đã tạo sự chuyển biến quan trọng trong công tác quản lý và điều hành NSNN, tạo thế chủ động, chất lượng và hiệu quả: Bảo đảm vai trò quyết định của Quốc hội về NSNN và tăng thực quyền, tính chủ động của HĐND các cấp trong việc quyết định dự toán, phân bổ và phê chuẩn quyết toán ngân sách. Phân định rõ quyền hạn quản lý, điều hành ngân sách của Chính phủ và Ủy ban nhân dân (UBND) các cấp, bảo đảm sự chỉ đạo điều hành thống nhất thu, chi NSNN trên cả nước; Quy định trách nhiệm và nâng cao quyền chủ động trong quản lý, sử dụng ngân sách của các Bộ, địa phương và đơn vị sử dụng ngân sách.

2. Những tồn tại, hạn chế trong việc thi hành Luật NSNN năm 2002

a) Về hoạt động của NSNN

- Tình trạng thất thu vẫn còn xảy ra, nhất là ở khu vực kinh tế ngoài nhà nước, ảnh hưởng đến nguồn lực NSNN.

- Hiệu quả sử dụng NSNN chưa cao, nhất là trong lĩnh vực chi đầu tư phát triển và các khoản mua sắm trong chi thường xuyên; tình trạng chi tiêu kém hiệu quả, lãng phí chậm được khắc phục.

b) Về cơ chế quản lý NSNN

- Ngân sách cấp tỉnh được phép huy động về bản chất là bội chi những chưa được tổng hợp vào bội chi NSNN để Quốc hội quyết định.

- Căn cứ xây dựng dự toán NSNN hàng năm còn chưa đầy đủ, chưa gắn kết chặt chẽ giữa dự toán ngân sách hàng năm với kế hoạch tài chính 5 năm, kế hoạch tài chính - NSNN 3 năm, đã hạn chế tính dự báo, lựa chọn ưu tiên và hiệu quả phân bổ NSNN. Việc quản lý NSNN cần gắn với kết quả thực hiện nhiệm vụ của đơn vị để bảo đảm nâng cao chất lượng, hiệu quả nhưng quá trình thực hiện còn thiếu cơ sở pháp lý.

- Thiếu các quy định xử lý cụ thể trong các trường hợp dự toán ngân sách, phương án phân bổ ngân sách chưa được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định; quy định về sử dụng dự phòng ngân sách.

- Luật NSNN hiện hành đã quy định dự toán, quyết toán, kết quả kiểm toán NSNN, ngân sách các cấp, các đơn vị dự toán ngân sách, các tổ chức được NSNN hỗ trợ phải thực hiện công khai, nhưng chưa quy định công tác đánh giá, giải trình số liệu công khai dẫn đến việc công khai còn thiếu minh bạch và chưa được các tổ chức và nhân dân giám sát chặt chẽ. Hơn nữa, chỉ quy định công khai dự toán, quyết toán ngân sách mà chưa quy định công khai tình hình thực hiện dự toán ngân sách của các cấp, các đơn vị dự toán ngân sách, chưa quy định công khai kết quả thực hiện các kiến nghị của Kiểm toán nhà nước, chưa công khai thủ tục thu, chi NSNN. Chưa có quy định về giám sát của cộng đồng.

- Các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách có mối quan hệ chặt chẽ với NSNN, song Luật chưa điều chỉnh, dẫn đến có xu hướng thành lập nhiều quỹ nhưng nguồn thu của các quỹ lại chủ yếu từ nguồn NSNN làm phân tán nguồn lực của NSNN; một số quỹ hoạt động chưa thực sự hiệu quả.

Để triển khai thi hành Hiến pháp năm 2013, kế thừa những thành tựu, khắc phục những tồn tại của Luật NSNN năm 2002, để đáp ứng yêu cầu mới đặt ra trong quá trình tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, cải cách hành chính, bảo đảm thống nhất, đồng bộ với quy định của Luật Tổ chức Chính phủ, Luật Tổ chức chính quyền địa phương và đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế, thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X và lần thứ XI của Đảng cần thiết phải sửa đổi Luật NSNN năm 2002 một cách căn bản, toàn diện. Do đó, việc xây dựng, ban hành Luật ngân sách nhà nước năm 2015 thay thế cho Luật ngân sách nhà nước năm 2002 là rất cần thiết.

II. QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO VÀ MỤC TIÊU XÂY DỰNG LUẬT

1. Quan điểm chỉ đạo

- Bảo đảm tuân thủ Hiến pháp năm 2013, phù hợp với chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, thống nhất với Luật Tổ chức Chính phủ, Luật Tổ chức chính quyền địa phương và các luật hiện hành có liên quan khác.

- Kế thừa và phát huy những mặt tích cực của Luật NSNN năm 2002; đổi mới phương thức quản lý NSNN phù hợp với thực tiễn phát triển KT-XH của đất nước. Tăng cường phân cấp quản lý ngân sách, bảo đảm tính thống nhất của NSNN và vai trò chủ đạo của NSTW; đồng thời phát huy tính chủ động của ngân sách các cấp chính quyền địa phương trong quản lý và sử dụng NSNN.

- Đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao tính minh bạch, dân chủ và công khai trong công tác quản lý NSNN; kiểm soát chặt chẽ hoạt động thu, chi ngân sách; tăng cường thanh tra, kiểm tra, kiểm toán, nâng cao kỷ luật, kỷ cương trong quản lý tài chính - NSNN bảo đảm thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, chống tham nhũng.

- Tăng cường giám sát việc huy động, phân bổ, sử dụng vốn vay, trả nợ, quản lý nợ công, quản lý rủi ro; bảo đảm an toàn nợ và an ninh tài chính quốc gia; góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển bền vững.

- Tiếp thu những kinh nghiệm quốc tế về quản lý NSNN; vận dụng phù hợp với thực tiễn của Việt Nam; bảo đảm công tác quản lý NSNN từng bước phù hợp với thông lệ quốc tế.

2. Mục tiêu xây dựng Luật

- Khắc phục những tồn tại của Luật NSNN năm 2002; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý NSNN, tạo động lực phát triển các nguồn lực, phân bổ ngân sách tập trung, hợp lý, bảo đảm công bằng, phục vụ mục tiêu phát triển KT-XH, bảo đảm an ninh, quốc phòng của đất nước; ổn định và phát triển nền tài chính quốc gia, tăng trưởng kinh tế bền vững, thực hiện xóa đói giảm nghèo.

- Bảo đảm quyền quyết định những vấn đề trọng yếu nhất về NSNN của Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ; tăng cường quyền hạn và trách nhiệm của các Bộ ngành trung ương, HĐND, UBND các cấp và đơn vị sử dụng ngân sách trong lĩnh vực NSNN.

- Đáp ứng yêu cầu đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, phù hợp với cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, có sự điều tiết của nhà nước và yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế.

- Từng bước đổi mới cơ chế quản lý ngân sách theo kết quả thực hiện các nhiệm vụ được NSNN cấp kinh phí.

            III. BỐ CỤC CỦA LUẬT

Luật NSNN năm 2015 gồm 7 Chương, với 77 Điều:

- Chương I: Những quy định chung, gồm 18 Điều (từ Điều 1 đến Điều 18).

- Chương II: Nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan nhà nước và trách nhiệm, nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân về NSNN, gồm 16 Điều (từ Điều 19 đến Điều 34).

- Chương III: Nguồn thu, nhiệm vụ chi của ngân sách các cấp, gồm 06 Điều (từ Điều 35 đến Điều 40).

- Chương IV: Lập dự toán NSNN, gồm 08 Điều (từ Điều 41 đến Điều 48).

- Chương V: Chấp hành NSNN, gồm 14 Điều (từ Điều 49 đến Điều 62).

- Chương VI: Kế toán, kiểm toán và quyết toán NSNN, gồm 11 Điều (từ Điều 63 đến Điều 73).

- Chương VII: Điều khoản thi hành, gồm 04 Điều (từ Điều 74 đến Điều 77).

            IV. NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA LUẬT

1. Chương I: Những quy định chung (gồm 18 Điều, từ Điều 1 đến Điều 18):

 Chương này quy định về: Phạm vi điều chỉnh; đối tượng áp dụng; giải thích từ ngữ; phạm vi thu, chi NSNN, hệ thống ngân sách; nguyên tắc cân đối, quản lý, phân cấp nguồn thu và nhiệm vụ chi NSNN giữa các cấp; dự phòng,  điều kiện thu, chi NSNN; kế toán, quyết toán; năm ngân sách; công khai NSNN; giám sát NSNN của cộng đồng; kế hoạch tài chính 5 năm; các hành vi bị cấm trong lĩnh vực NSNN. So với Luật NSNN năm 2002, chương này của Luật có nhiều nội dung sửa đổi, bổ sung quan trọng nhằm quản lý NSNN thống nhất, chặt chẽ, hiệu quả, cân đối tích cực trong phạm vi an toàn bảo đảm an ninh tài chính quốc gia và từng bước phù hợp với thông lệ quốc tế về lĩnh vực NSNN, cụ thể như sau:

- Phạm vi thu ngân sách:

(i) Đối với các khoản phí, lệ phí, Luật đã quy định rõ: lệ phí nộp toàn bộ vào NSNN (như đối với thuế). Đối với phí thu từ các hoạt động dịch vụ do Nhà nước đầu tư và cơ quan quản lý nhà nước thực hiện thì nộp toàn bộ vào NSNN, trường hợp được khoán chi phí hoạt động thì được khấu trừ. Đối với phí thu từ hoạt động dịch vụ do đơn vị sự nghiệp công lập và doanh nghiệp nhà nước thì được phép trích lại một phần hoặc toàn bộ, phần còn lại thực hiện nộp ngân sách theo quy định của pháp luật về phí, lệ phí và pháp luật có liên quan;

(ii) Đối với khoản thu từ hoạt động xổ số kiến thiết (XSKT), Luật khẳng định thu từ hoạt động XSKT là khoản thu NSĐP được hưởng 100%; nguồn thu XSKT (cùng với nguồn thu tiền sử dụng đất) không dùng để xác định tỷ lệ phần trăm (%) đối với các khoản thu phân chia giữa NSTW và NSĐP và xác định số bổ sung cân đối từ NSTW cho NSĐP.

- Phạm vi chi NSNN. Luật quy định rõ khoản chi từ nguồn thu XSKT, chi từ nguồn trái phiếu Chính phủ được đưa vào cân đối chi NSNN theo luật hiện hành đang thực hiện cơ chế quản lý qua NSNN.

- Phạm vi bội chi NSNN. Luật quy định bội chi NSNN bao gồm bội chi NSTW và bội chi NSĐP cấp tỉnh. Bội chi NSTW được xác định bằng chênh lệch lớn hơn giữa tổng chi NSTW không bao gồm chi trả nợ gốc và tổng thu NSTW. Bội chi NSĐP cấp tỉnh là tổng hợp bội chi ngân sách cấp tỉnh của từng địa phương, được xác định bằng chênh lệch lớn hơn giữa tổng chi ngân sách cấp tỉnh không bao gồm chi trả nợ gốc và tổng thu ngân sách cấp tỉnh của từng địa phương[3].

- Về điều chỉnh nguồn thu trong trường hợp thu ngân sách có biến động tăng đột biến trong thời kỳ ổn định ngân sách: Hiện nay, có nhiều dự án đầu tư lớn trong các lĩnh vực điện tử, luyện thép, lọc dầu, điện hạt nhân,... Khi các dự án này đi vào hoạt động sẽ phát sinh nguồn thu ngân sách lớn. Vì vậy, để phù hợp với cân đối chung, cần thiết phải bổ sung vào Luật NSNN năm 2015 quy định: Trường hợp đặc biệt có phát sinh nguồn thu từ dự án mới đi vào hoạt động trong thời kỳ ổn định ngân sách làm ngân sách địa phương tăng thu lớn thì số tăng thu phải nộp về ngân sách cấp trên. Chính phủ trình Quốc hội, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh trình Hội đồng nhân dân cùng cấp quyết định thu về ngân sách cấp trên số tăng thu này và thực hiện bổ sung có mục tiêu một phần cho ngân sách cấp dưới để hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng ở địa phương theo dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt.

- Về dự phòng ngân sách: (điều 10, Luật NSNN 2015)

Luật NSNN năm 2002 quy định, dự toán chi NSTW và ngân sách các cấp chính quyền địa phương được bố trí khoản dự phòng từ 2 đến 5% tổng chi để chi phòng chống, khắc phục hậu quả thiên tai, hoả hoạn, nhiệm vụ phát sinh quan trọng về quốc phòng, an ninh và nhiệm vụ cấp bách khác phát sinh ngoài dự toán. Thực tế trong những năm qua ngoài các nội dung chi từ dự phòng ngân sách quy định trong Luật NSNN, dự phòng ngân sách còn phải sử dụng để phòng, chống, khắc phục hậu quả dịch bệnh, thực hiện các chế độ chính sách mới về xoá đói giảm nghèo, an sinh xã hội và một số nhiệm vụ cần thiết khác mà dự toán chưa bố trí hoặc bố trí thiếu nhưng phải thực hiện ngay trong năm. Việc sử dụng dự phòng ngân sách để thực hiện các nhiệm vụ này là cần thiết, tuy nhiên, do Luật NSNN năm 2002 chưa quy định rõ ràng nên khi thực hiện, cơ quan thanh tra, kiểm toán còn có ý kiến cho rằng một số trường hợp sử dụng dự phòng chưa đúng với quy định của Luật NSNN. Vì vậy, để đảm bảo cơ sở pháp lý trong quá trình tổ chức thực hiện, Luật NSNN năm 2015 quy định: Ngoài những nội dung chi phòng chống, khắc phục hậu quả thiên tai, hoả hoạn, nhiệm vụ phát sinh quan trọng về quốc phòng, an ninh; bổ sung thêm nội dung được phép sử dụng từ nguồn dự phòng ngân sách, gồm: khắc phục thảm họa; dịch bệnh; cứu đói và các nhiệm vụ và các nhiệm vụ cần thiết khác thuộc nhiệm vụ chi của ngân sách cấp mình mà chưa được dự toán. Để bảo đảm việc sử dụng dự phòng chặt chẽ, Luật NSNN năm 2015 quy định rõ thẩm quyền và giám sát việc sử dụng dự phòng. Theo đó, Chính phủ quy định việc sử dụng dự phòng của NSTW, định kỳ báo cáo Uỷ ban thường vụ Quốc hội, báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất. UBND quyết định sử dụng dự phòng NSĐP, định kỳ báo cáo Thường trực HĐND, báo cáo HĐND cùng cấp tại kỳ họp gần nhất. Luật còn quy định giảm tỷ lệ dự phòng còn từ 2 đến 4% tổng chi NSNN (cho quy định còn từ 2 đến 5% tổng chi NSNN như trước).

- Về quản lý các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách:

Luật NSNN năm 2002 không điều chỉnh các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách và các quỹ hoạt động theo quy định của pháp luật và điều lệ của quỹ. Thực tế vẫn có một số khoản thu của NSNN được tách ra đưa vào các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách. Cách làm này tuy đạt được một số mục tiêu nhất định, song làm phân tán nguồn lực NSNN, một số quỹ có số dư khá trong khi quỹ NSNN có lúc thiếu hụt, phải đi vay. Một số trường hợp sử dụng quỹ không đúng mục tiêu, không hiệu quả do không chịu sự kiểm soát của Luật NSNN. Vì vậy, cần quy định rõ ràng hơn, chặt chẽ để đảm bảo việc quản lý, sử dụng của các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách có hiệu quả và rà soát, bãi bỏ chuyển các nhiệm vụ của quỹ có nguồn thu thực chất là của NSNN hoặc hàng năm NSNN phải bổ sung kinh phí cho hoạt động của quỹ để thực hiện nhiệm vụ chi của NSNN. Trong phạm vi Luật NSNN chỉ có thể quy định nguồn thu nào thuộc phạm vi ngân sách thì phải nộp NSNN và điều kiện để hỗ trợ NSNN cho các quỹ tài chính nhà nước nhằm hạn chế việc thành lập mới các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách và chấn chỉnh hoạt động của các quỹ hiện nay. Để khắc phục tình trạng này, Luật NSNN năm 2015 quy định: Ngân sách nhà nước không hỗ trợ kinh phí hoạt động cho các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách. Trường hợp được ngân sách nhà nước hỗ trợ vốn điều lệ theo quy định của pháp luật thì phải phù hợp với khả năng của ngân sách nhà nước và chỉ thực hiện khi đáp ứng đủ các điều kiện sau: được thành lập và hoạt động theo đúng quy định của pháp luật; có khả năng tài chính độc lập; có nguồn thu, nhiệm vụ chi không trùng với nguồn thu, nhiệm vụ chi của ngân sách nhà nước. Luật còn quy định Bộ Tài chính, Sở Tài chính tổng hợp tình hình thực hiện kế hoạch, dự kiến kế hoạch tài chính năm sau, quyết toán thu, chi của các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách báo cáo Chính phủ, Ủy ban nhân dân để báo cáo Quốc hội, Hội đồng nhân dân cùng với dự toán, quyết toán NSNN hàng năm.

- Về kế hoạch tài chính 5 năm: Để quản lý NSNN trong trung hạn và phù hợp với Luật Đầu tư công, Luật NSNN năm 2015 quy định: Kế hoạch tài chính 05 năm là kế hoạch tài chính được lập trong thời hạn 05 năm cùng với kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 05 năm. Kế hoạch tài chính 05 năm xác định mục tiêu tổng quát, mục tiêu cụ thể về tài chính - ngân sách nhà nước; các định hướng lớn về tài chính, ngân sách nhà nước; số thu và cơ cấu thu nội địa, thu dầu thô, thu cân đối từ hoạt động xuất nhập khẩu, số chi và cơ cấu chi đầu tư phát triển, chi trả nợ, chi thường xuyên; định hướng về bội chi ngân sách; giới hạn nợ nước ngoài của quốc gia, nợ công, nợ Chính phủ; các giải pháp chủ yếu để thực hiện kế hoạch.  Kế hoạch tài chính 05 năm gồm kế hoạch tài chính 05 năm quốc gia và kế hoạch tài chính 05 năm tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.

- Về công khai ngân sách: Để phát huy hơn nữa hiệu quả của việc công khai và giám sát NSNN của cộng đồng, Luật NSNN năm 2015 đã bổ sung quy định các cấp ngân sách và các đơn vị sử dụng ngân sách có trách nhiệm công khai tình hình thực hiện dự toán ngân sách; việc công khai phải kèm theo báo cáo thuyết minh; công khai kết quả thực hiện các kiến nghị của Kiểm toán nhà nước; công khai các thủ tục NSNN. Nội dung này được  hướng dẫn tại Nghị định 163/2016/NĐ-CP, từ điều 46 đến điều 52 gồm: các đối tượng, phạm vị thực hiện công khai, nội dung công khai, thời điểm công khai, hình thức và biểu mẫu công khai. Chi tiết cho từng đối tượng quản lý được hướng dẫn chi tiết tại Thông tư 343/2016/TT-BTC.

- Về giám sát thực hiện NSNN của cộng đồng: đây là điểm mới của Luật NSNN năm 2015 và Luật MTTQVN. Hướng dẫn nội dung này của Luật NSNN, Nghị định 163/2016/NĐ-CP, điều 52 quy định :

1. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp chủ trì, phối hợp với các thành viên của Mặt trận tổ chức việc giám sát ngân sách nhà nước của cộng đồng.

2. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp trực tiếp hoặc thông qua các thành viên của Mặt trận có trách nhiệm tiếp nhận thông tin, đề nghị giám sát; chủ trì xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện giám sát ngân sách nhà nước theo kế hoạch và quy định của pháp luật.

3. Nội dung giám sát thực hiện theo quy định tại điểm a, b và điểm c khoản 1 Điều 16 Luật ngân sách nhà nước.

4. Hình thức giám sát:

a) Nghiên cứu, xem xét văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về lĩnh vực ngân sách nhà nước liên quan đến quyền lợi và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; b) Tổ chức đoàn giám sát; c) Tham gia giám sát với cơ quan, tổ chức có thẩm quyền; đ) Thông qua hoạt động của Ban thanh tra nhân dân được thành lập ở cấp xã, Ban giám sát đầu tư cộng đồng.

5. Cơ quan, đơn vị, tổ chức được giám sát và các cơ quan có liên quan có trách nhiệm: a) Cung cấp thông tin, tài liệu theo nội dung giám sát cho Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp; b) Xem xét giải quyết, giải trình và trả lời kịp thời kiến nghị của nhân dân kiến nghị của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp hoặc báo cáo cơ quan có thẩm quyền về nhưng vấn đề không thuộc thẩm quyền giải quyết của mình; c) Thực hiện công khai nội dung giải quyết, giải trình kiến nghị của nhân dân, kiến nghị của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp về hoạt động giám sát.”

Luật cũng bổ sung quy định các đối tượng có trách nhiệm phải thực hiện công khai theo quy định, mà không thực hiện công khai đầy đủ, đúng hạn thì sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật.

- Ngoài các nội dung trên, Chương này còn quy định nguyên tắc cân đối, quản lý, phân cấp nguồn thu và nhiệm vụ chi NSNN giữa các cấp; nội dung sử dụng quỹ dự trữ tài chính, các hành vi bị cấm trong lĩnh vực NSNN ( tại điều 18)

2. Chương II: Nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan nhà nước và trách nhiệm, nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân về NSNN (gồm 16 Điều, từ Điều 19 đến Điều 34):

Chương này quy định nhiệm vụ, quyền hạn của Quốc hội, UBTV Quốc hội và các cơ quan của Quốc hội; nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ tịch nước, của Chính phủ, Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Kiểm toán nhà nước, các bộ, cơ quan trung ương; nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND, UBND các cấp và trách nhiệm các đơn vị dự toán, các tổ chức, cá nhân trong lĩnh vực NSNN. Tại chương này của Luật có một số quy định mới như sau:

- Quy định thẩm quyền của Quốc hội trong việc quyết định chính sách cơ bản về tài chính - NSNN; mức giới hạn an toàn nợ quốc gia, nợ công, nợ chính phủ; kế hoạch tài chính 5 năm; dự toán NSNN, phân bổ NSTW; bội chi NSNN (bao gồm bội chi NSTW và bội chi NSĐP, chi tiết từng địa phương); tổng mức vay của NSNN, bao gồm vay để bù đắp bội chi NSNN và vay để trả nợ gốc của NSNN; tỷ lệ phần trăm (%) phân chia các khoản thu phân chia giữa NSTW và ngân sách từng địa phương,...

- Quy định thẩm quyền của UBTV Quốc hội trong việc quyết định nguyên tắc, tiêu chí và định mức phân bổ NSNN; phân bổ, sử dụng số tăng thu, số tiết kiệm chi của NSTW,.. (theo Luật 2002 thì đây là thẩm quyền của Chính Phủ)

- Quy định thẩm quyền của HĐND cấp tỉnh trong việc được ban hành chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi NSNN theo quy định khung do Chính phủ ban hành.

-Các nội dung khác cơ bản giữ lại như luật NSNN năm 2002

3. Chương III: Nguồn thu, nhiệm vụ chi của ngân sách các cấp (gồm 06 Điều, từ Điều 35 đến Điều 40):

Chương này quy định cụ thể nguồn thu, nhiệm vụ chi của NSTW và NSĐP; làm rõ mối quan hệ giữa ngân sách các cấp theo hướng đẩy mạnh phân cấp cho địa phương để chủ động thực hiện nhiệm vụ phát triển KT-XH, bảo đảm quốc phòng, an ninh trên địa bàn và thực hiện các chính sách an sinh xã hội, xoá đói giảm nghèo, đi đôi với việc tăng cường hướng dẫn, kiểm tra, giám sát thực hiện của các cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực NSNN. Tại chương này của Luật có các sửa đổi, bổ sung như sau:

- Luật bỏ quy định khoản thuế thu nhập của các doanh nghiệp hạch toán toàn ngành NSTW hưởng 100% và quy định toàn bộ thuế thu nhập doanh nghiệp (bao gồm cả thuế thu nhập doanh nghiệp của các doanh nghiệp hạch toán toàn ngành trước đây) là khoản thu phân chia giữa NSTW và NSĐP (bao gồm cả địa phương có trụ sở chính của doanh nghiệp và địa phương có cơ sở sản xuất hạch toán phụ thuộc của doanh nghiệp).[4]

- Để tăng cường quyền hạn cho HĐND cấp tỉnh trong việc quyết định việc phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi cho từng cấp ngân sách ở địa phương phù hợp với thực tế của địa phương, Luật quy định: Ngân sách xã, thị trấn được phân chia nguồn thu từ thuế nhà đất, thuế môn bài thu từ cá nhân, hộ kinh doanh, thuế sử dụng đất nông nghiệp thu từ hộ gia đình, lệ phí trước bạ nhà đất để bảo đảm chủ động thực hiện các nhiệm vụ chi của xã, thị trấn. Việc quyết định tỷ lệ phần trăm (%) cho ngân sách xã, thị trấn hưởng do HĐND cấp tỉnh quyết định theo tình hình thực tế tại địa phương.

- Về tiền thu được từ xử phạt vi phạm hành chính: Đây là nội dung chưa được đề cập trong Luật NSNN hiện hành. Trong khi đó, một số văn bản hướng dẫn quy định có khoản xử phạt vi phạm hành chính nộp vào NSNN, có khoản để lại một phần cho đơn vị thực hiện xử phạt vi phạm hành chính để trang trải chi phí, phần còn lại nộp ngân sách. Theo Luật Xử phạt vi phạm hành chính (có hiệu lực từ ngày 01/7/2013), thì toàn bộ các khoản thu xử phạt vi phạm hành chính được nộp vào NSNN. Thực hiện quy định này, trong dự toán NSNN năm 2014, Chính phủ đã trình Quốc hội phân chia khoản thu này giữa NSTW và NSĐP theo hướng: toàn bộ tiền thu từ xử phạt vi phạm hành chính NSĐP hưởng 100%; riêng đối với xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ, đường sắt, đường thuỷ nội địa, NSTW hưởng 70% (để chi cho lực lượng công an), NSĐP hưởng 30% (để chi cho lực lượng ở địa phương). Kinh phí chi cho lực lượng xử phạt vi phạm hành chính được bố trí trong dự toán hàng năm giao cho đơn vị. Để bảo đảm phân cấp nguồn thu phù hợp với đối tượng thực hiện, Luật NSNN năm 2015 quy định: Tiền thu từ xử phạt vi phạm hành chính, các khoản phạt, tịch thu khác do các cơ quan nhà nước thuộc cấp nào thu thì ngân sách cấp đó hưởng.

- Về phân cấp nhiệm vụ chi phát triển KT-XH, về cơ bản, kế thừa Luật NSNN năm 2012 và thực hiện theo pháp luật về tổ chức chính quyền địa phương. Riêng chi nghiên cứu khoa học cho các cấp chính quyền địa phương, Luật NSNN năm 2015 quy định chỉ phân cấp nhiệm vụ nghiên cứu khoa học cho cấp tỉnh, còn các cấp huyện, xã chỉ thực hiện nhiệm vụ ứng dụng khoa học công nghệ.

- Về số bổ sung có mục tiêu từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới. Luật NSNN năm 2002 đã quy định nguyên tắc về số bổ sung có mục tiêu từ NSTW cho NSĐP, tuy nhiên, do chưa quy định đầy đủ, cụ thể các tiêu chí cho từng mục tiêu hỗ trợ NSTW nên đã tạo cơ chế “xin cho” và thực tế hiện nay các khoản vốn đầu tư bổ sung có mục tiêu hàng năm tăng nhanh và có xu hướng lớn hơn số chi đầu tư trong cân đối NSĐP, có dự án NSTW bổ sung cho NSĐP thực hiện ở mức rất thấp dẫn tới mất tính chủ động cho NSĐP; địa phương trông chờ ỷ lại ngân sách cấp trên. Do vậy, NSTW không có nguồn để tập trung đầu tư các công trình, dự án lớn quan trọng của quốc gia. Để khắc phục tình trạng hiện nay và bảo đảm tính chủ động của địa phương, Luật NSNN năm 2015 quy định cụ thể những nhiệm vụ được ngân sách cấp trên bổ sung có mục tiêu: a) Thực hiện các chính sách, chế độ mới do cấp trên ban hành chưa được bố trí trong dự toán ngân sách của năm đầu thời kỳ ổn định ngân sách; b) Thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia và các chương trình, dự án khác của cấp trên, phần giao cho cấp dưới thực hiện; c) Hỗ trợ chi khắc phục thiên tai, thảm hoạ, dịch bệnh trên diện rộng vượt quá khả năng cân đối của ngân sách cấp dưới; d) Hỗ trợ thực hiện một số chương trình, dự án lớn, đặc biệt quan trọng có tác động lớn đến phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Mức hỗ trợ được xác định cụ thể cho từng chương trình, dự án. Tổng mức hỗ trợ vốn đầu tư phát triển hàng năm của ngân sách trung ương cho ngân sách địa phương quy định tại điểm này tối đa không vượt quá 30% tổng chi đầu tư xây dựng cơ bản của ngân sách trung ương.

4. Chương IV: Lập dự toán NSNN (gồm 08 Điều, từ Điều 41 đến Điều 48):

Chương này quy định cụ thể căn cứ, yêu cầu, nội dung, quy trình, thời gian và trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân trong việc lập kế hoạch tài chính - NSNN 3 năm; tổng hợp, trình và quyết định dự toán NSNN hàng năm. Chương này đã bổ sung quy định về thời gian, quy trình lập, tổng hợp, trình và quyết định NSNN, phương án phân bổ NSTW; đồng thời bổ sung quy định để đảm bảo quy định Quốc hội quyết định định hướng kế hoạch tài chính 5 năm và kế hoạch đầu tư công trung hạn, dự toán ngân sách hàng năm bổ sung căn cứ dự toán NSNN hàng năm là cụ thể hóa từng năm đối với kế hoạch tài chính 5 năm và kế hoạch đầu tư công trung hạn. Theo đó: Kế hoạch tài chính - ngân sách nhà nước 3 năm là kế hoạch tài chính - ngân sách nhà nước được lập hàng năm cho thời gian 3 năm, dựa trên kế hoạch tài chính 5 năm được lập kể từ năm dự toán ngân sách và 2 năm tiếp theo, theo phương thức cuốn chiếu. Kế hoạch này được lập cùng thời điểm lập dự toán ngân sách nhà nước hàng năm nhằm định hướng cho công tác lập dự toán ngân sách nhà nước hàng năm; định hướng thứ tự ưu tiên phân bổ nguồn lực cho từng lĩnh vực và từng nhiệm vụ, hoạt động, chế độ, chính sách cho từng lĩnh vực trong trung hạn. Kế hoạch tài chính - ngân sách nhà nước 3 năm gồm kế hoạch tài chính - ngân sách nhà nước 3 năm quốc gia và kế hoạch tài chính - ngân sách 3 năm tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư tổng hợp kế hoạch tài chính - ngân sách nhà nước 3 năm quốc gia, báo cáo Chính phủ trình Quốc hội. Sở Tài chính chủ trì, phối hợp với Sở Kế hoạch và Đầu tư tổng hợp kế hoạch tài chính – ngân sách nhà nước 3 năm tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương báo cáo Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trình Hội đồng nhân dân cùng cấp để tham khảo khi thảo luận, xem xét, thông qua dự toán ngân sách và phương án phân bổ ngân sách nhà nước hàng năm.

5. Chương V: Chấp hành NSNN (gồm 14 Điều, từ Điều 49 đến Điều 62):

 Chương này quy định cụ thể quá trình phân bổ dự toán cho các đơn vị sử dụng ngân sách, thực hiện các khoản thu, chi, điều chỉnh dự toán, xử lý trong trường hợp tăng, giảm thu; quản lý quỹ NSNN. Chương này có một số nội dung mới như sau:

- Về sử dụng nguồn tăng thu, tiết kiệm chi so với dự toán hàng năm: Luật NSNN năm 2015 bổ sung thêm nhiệm vụ được sử dụng nguồn tăng thu, tiết kiệm chi như: bổ sung nguồn thực hiện cải cách tiền lương; thực hiện các chế độ, chính sách an sinh xã hội và thực hiện bù hụt thu do nguyên nhân khách quan cho ngân sách cấp dưới.[5]

- Về cơ chế hỗ trợ hụt thu cho NSĐP: Để bảo đảm cơ sở pháp lý trong quá trình tổ chức thực hiện bù hụt thu cho NSĐP do các nguyên nhân khách quan, Luật NSNN năm 2015 quy định: kết thúc năm ngân sách, trường hợp NSĐP hụt thu so với dự toán cấp trên giao do nguyên nhân khách quan, sau khi đã điều chỉnh giảm một số khoản chi và sử dụng các nguồn tài chính hợp pháp khác của địa phương mà chưa bảo đảm được cân đối NSĐP thì ngân sách cấp trên hỗ trợ ngân sách cấp dưới theo khả năng của ngân sách cấp trên.[6]

Ngoài ra, Chương này còn sửa đổi, bổ sung một số nội dung như: thưởng vượt thu ngân sách so dự toán các khoản thu phân chia giữa các cấp ngân sách ở địa phương; cải cách thủ tục hành chính trong việc cơ quan tài chính thẩm tra phân bổ dự toán của các cơ quan, đơn vị; thời hạn điều chỉnh dự toán.

6. Chương VI: Kế toán, kiểm toán và quyết toán NSNN (gồm 11 Điều, từ Điều 63 đến Điều 73):

Chương này quy định công tác kế toán ngân sách, xử lý từ khi kết thúc năm ngân sách, khóa sổ kế toán, chỉnh lý quyết toán, duyệt, thẩm định, tổng hợp, trình và phê chuẩn quyết toán NSNN. Chương này có một số nội dung mới như sau:  

- Về công tác duyệt, thẩm định, tổng hợp quyết toán NSNN: Để làm rõ trách nhiệm của từng cơ quan từ khâu duyệt, thẩm định, tổng hợp quyết toán NSNN, Luật NSNN năm 2015 quy định cụ thể nội dung duyệt, thẩm định, tổng hợp và phê chuẩn quyết toán ngân sách, trong đó nội dung quan trọng nhất là duyệt các khoản chi tại các đơn vị sử dụng ngân sách trên cơ sở dự toán, định mức chi ngân sách, tiêu chuẩn, chế độ. Đồng thời, do quyết toán NSĐP đã được cơ quan tài chính địa phương thẩm định và HĐND cấp tỉnh phê chuẩn, Luật NSNN năm 2015 không quy định Bộ Tài chính thẩm định quyết toán NSĐP, mà căn cứ vào quyết toán NSĐP đã được HĐND cấp tỉnh phê chuẩn, Bộ Tài chính tổng hợp quyết toán NSĐP vào quyết toán NSNN để báo cáo Chính phủ trình Quốc hội xem xét, phê chuẩn. [7]

- Về việc đánh giá kết quả, hiệu quả chi NSNN gắn với công tác quyết toán NSNN: Để đánh giá kết quả, hiệu quả chi NSNN đối với từng chương trình, dự án và của từng bộ, cơ quan trung ương, địa phương, đơn vị sử dụng ngân sách, Luật NSNN năm 2015 quy định: Báo cáo quyết toán của đơn vị sử dụng ngân sách, đơn vị dự toán cấp trên, ngân sách các cấp phải kèm theo thuyết minh đánh giá kết quả, hiệu quả chi ngân sách gắn với kết quả thực hiện nhiệm vụ của đơn vị, địa phương, lĩnh vực, chương trình, mục tiêu được giao phụ trách.[8]

- Ngoài ra, Chương này còn sửa đổi, bổ sung một số nội dung như: kiểm toán báo cáo quyết toán NSNN, quyết toán NSĐP; xử lý các khoản thu, chi ngân sách không đúng quy định sau khi quyết toán ngân sách được phê chuẩn.

7. Chương VII: Điều khoản thi hành (gồm 04 Điều, từ Điều 74 đến Điều 77):

 Chương này quy định việc hướng dẫn thi hành đối với một số nội dung đặc thù, hiệu lực thi hành Luật NSNN, trong đó Điều 75 quy định về điều khoản chuyển tiếp đối với quyết toán ngân sách các năm 2015 và 2016, áp dụng theo các quy định của Luật NSNN số 01/2002/QH11. Thời kỳ ổn định ngân sách 2011-2015 được kéo dài đến hết năm 2016. Thời kỳ ổn định ngân sách tiếp theo được tính từ năm 2017 đến năm 2020. Đối với dự toán ngân sách năm 2016 của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan khác ở trung ương và các địa phương thực hiện như sau: a) Đối với dự toán ngân sách chi thường xuyên, áp dụng định mức phân bổ dự toán chi thường xuyên ngân sách nhà nước theo Quyết định số 59/2010/QĐ-TTg ngày 30/9/2010 của Thủ tướng Chính phủ;  b) Đối với dự toán ngân sách chi đầu tư phát triển, áp dụng các nguyên tắc, tiêu chí, định mức phân bổ vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước giai đoạn 2016-2020 theo Nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Dự toán ngân sách chi đầu tư phát triển năm 2016 phải nằm trong khung kế hoạch đầu tư trung hạn 2016-2020 và được bố trí cân đối phù hợp với tốc độ tăng chi ngân sách nhà nước năm 2016 so với năm 2015.

Khoản 1 Điều 76 quy định Luật này có hiệu lực thi hành từ năm ngân sách 2017. Luật ngân sách nhà nước số 01/2002/QH11 hết hiệu lực thi hành kể từ ngày Luật này có hiệu lực.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

V. MỘT SỐ VĂN BẢN HƯỚNG DẪN THI HÀNH LUẬT NSNN 2015

1. Nghị quyết số 1023/NQ-UBTVQH13 ngày 28/8/2015 quy định về nguyên tắc, tiêu chí và định mức phân bổ vốn đầu tư phát triển nguồn NSNN giai đoạn 2016 – 2020.

2. Nghị quyết số 266/2016/UBTVQH14, ngày 4/10/ 2016 ban hành các nguyên tắc, tiêu chí và định mức phân bổ dự toán chi thường xuyên NSNN năm 2017.

 3. Nghị quyết 343/2016/UBTVQH14 ngày 21/12/2016 của UBTVQH về việc ban hành Quy chế lập, thẩm tra, quyết định KHTC 05 năm quốc gia, kế hoạch đầu tư công trung hạn quốc gia, KHTC-NSNN 3 năm quốc gia, dự toán NSNN, phương án phân bổ NSTW và phê chuẩn quyết toán NSNN hàng năm (thay thế Nghị quyết số 387/NQ/UBTVQH11 ngày 17/3/2003);

4. Nghị định 163/2016/NĐ-CP ngày 21/12/2016 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật NSNN (thay thế Nghị định số 60/NĐ-CP ngày 6/6/2003 của Chính phủ);

5. Nghị định số 31/2017/NĐ-CP ngày 23/3/2017 của Chính phủ quy định quy chế xem xét, quyết định kế hoạch tài chính 5 năm địa phương, kế hoạch đầu tư công trung hạn địa phương, kế hoạch tài chính – ngân sách 3 năm địa phương và dự toán,  phân bổ NSNN, phê chuẩn quyết toán NSĐP hàng năm (thay thế Nghị định số 73/2003/NĐ-CP ngày 23/6/2003 của Chính phủ);

6. Nghị định 45/2017/NĐ-CP ngày 21/4/2017 của Chính phủ quy định chi tiết việc lập kế hoạch tài chính 5 năm và lập kế hoạch tài chính - NSNN 3 năm (ban hành mới);

7. Nghị định 165/2016/NĐ-CP ngày 24/12/2016 của Chính phủ quy định về quản lý, sử dụng ngân sách đối với một số hoạt động thuộc lĩnh vực quốc phòng, an ninh (thay thế Nghị định số 10/2004/NĐ-CP ngày 7/1/2004 của Chính phủ);

8. Các Nghị định của Chính phủ quy định một số cơ chế, chính sách tài chính - ngân sách đặc thù đối với 5 thành phố trực thuộc TW:  Hà Nội; thành phố Hồ Chí Minh; Đà Nẵng; Cần Thơ

9. Nghị định số 24/2016/NĐ-CP ngày 05/4/2016 của Chính phủ quy định chế độ quản lý ngân quỹ nhà nước (ban hành mới).

10. Thông tư 342/ 2016/TT-BTC ngày quy định chi tiết một số điều của Nghị định 163/2016/NĐ-CP

11. Thông tư 343/2016TT-BTC ngày 30/2/2016 quy định về công khai NSNN đối với các cấp ngân sách.

 

 

 

 

 

 

MỘT SỐ NỘI DUNG CỦA LUẬT NSNN LIÊN QUAN ĐẾN CÔNG TÁC QUẢN LÝ NGÂN SÁCH CẤP HUYỆN VÀ CẤP XÃ

I. Một số khái niệm:

1. Đơn vị dự toán ngân sách là cơ quan, tổ chức, đơn vị được cấp có thẩm quyền giao dự toán ngân sách.

2. Đơn vị sử dụng ngân sách là đơn vị dự toán ngân sách được giao trực tiếp quản lý, sử dụng ngân sách.

3. Hệ thống ngân sách nhà nước

-  Ngân sách nhà nước gồm ngân sách trung ương và ngân sách địa phương; Ngân sách địa phương gồm ngân sách của các cấp chính quyền địa phương.

Ngân sách địa phương là các khoản thu NSNN phân cấp cho cấp địa phương hưởng và các khoản chi NSNN thuộc nhiệm vụ chi của cấp địa phương.

Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước được dự toán và thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước.

4. Quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách là quỹ do cơ quan có thẩm quyền quyết định thành lập, hoạt động độc lập với ngân sách nhà nước, nguồn thu, nhiệm vụ chi của quỹ để thực hiện các nhiệm vụ theo quy định của pháp luật.

II. Một số nguyên tắc trong cân đối, quản lý NSNN

1. Nguyên tắc cân đối NSNN (điều 7)

-  Các khoản thu từ thuế, phí, lệ phí và các khoản thu khác theo quy định của pháp luật được tổng hợp đầy đủ vào cân đối ngân sách nhà nước, theo nguyên tắc không gắn với nhiệm vụ chi cụ thể. Trường hợp có khoản thu cần gắn với nhiệm vụ chi cụ thể theo quy định của pháp luật thì được bố trí tương ứng từ các khoản thu này trong dự toán chi ngân sách để thực hiện.

- Ở NS địa phương Chi ngân sách địa phương cấp tỉnh được bội chi; còn chi Ngân sách cấp huyện và cấp xã không được bội chi.

2. Nguyên tắc quản lý NSNN (điều 8)

- Toàn bộ các khoản thu, chi ngân sách phải được dự toán, tổng hợp đầy đủ vào ngân sách nhà nước.

- Các khoản thu ngân sách thực hiện theo quy định của pháp luật.

-  Các khoản chi ngân sách chỉ được thực hiện khi có dự toán được cấp có thẩm quyền giao và phải bảo đảm đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định. Ngân sách các cấp, đơn vị dự toán ngân sách, đơn vị sử dụng ngân sách không được thực hiện nhiệm vụ chi khi chưa có nguồn tài chính, làm phát sinh nợ khối lượng xây dựng cơ bản, nợ kinh phí thực hiện nhiệm vụ chi thường xuyên.

- NSNN bảo đảm cân đối kinh phí hoạt động của tổ chức chính trị và các tổ chức chính trị - xã hội (cấp theo nguyên tắc cấp phần chênh lệch giữ dự toán chi được xác định theo chế độ, định mức tiêu chuẩn do cấp có thẩm quyền quy định với các nguồn thu theo điều lệ của tổ chức này.

-  Kinh phí hoạt động của các tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp được thực hiện theo nguyên tắc tự bảo đảm; ngân sách nhà nước chỉ hỗ trợ cho các nhiệm vụ Nhà nước giao theo quy định của Chính phủ.

- Ngân sách nhà nước không hỗ trợ kinh phí hoạt động cho các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách.

3. Nguyên tắc phân cấp quản lý nguồn thu, nhiệm vụ chi (điều 9)

- Nhiệm vụ chi thuộc ngân sách cấp nào do ngân sách cấp đó bảo đảm; việc ban hành và thực hiện chính sách, chế độ mới làm tăng chi ngân sách phải bảo đảm trong phạm vi ngân sách theo phân cấp.

- Không được dùng ngân sách của cấp này để chi cho nhiệm vụ của cấp khác trừ các trường hợp sau: a) Ngân sách cấp dưới hỗ trợ cho các đơn vị thuộc cấp trên quản lý đóng trên địa bàn trong trường hợp cấp thiết để bảo đảm ổn định tình hình KT-XH, an ninh và trật tự, an toàn xã hội của địa phương;b) thực hiện chức năng của mình, kết hợp thực hiện một số nhiệm vụ theo yêu cầu của cấp dưới; c) Sử dụng dự phòng để hỗ trợ các địa phương khác khắc phục thiên tai, thảm họa nghiêm trọng.

4.  Công khai ngân sách nhà nước

Việc công khai NSNN thực hiện theo quy định tại Thông tư 343/2016/TT-BTC gồm:

- Số liệu và báo cáo thuyết minh dự toán, quyết toán đã được cấp co thẩm quyền quyết định; kết quả thực hiện các kiến nghị của Kiểm toán nhà nước; trừ số liệu chi tiết, báo cáo thuyết minh thuộc lĩnh vực quốc phòng, an ninh, dự trữ quốc gia;

- Thực hiện công khai bằng một hoặc một số hình thức: công bố tại kỳ họp, niêm yết tại trụ sở làm việc của cơ quan, tổ chức, đơn vị; phát hành ấn phẩm; thông báo bằng văn bản đến các cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có liên quan; đưa lên trang thông tin điện tử; thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng;

- Báo cáo dự toán NSNN phải được công khai chậm nhất là 05 ngày làm việc kể từ ngày UBND gửi đại biểu HĐND; Báo cáo dự toán; quyết toán NSNN đã được cấp có thẩm quyền phê chuẩn, kết quả kiểm toán …phải được công khai chậm nhất là 30 ngày kể từ ngày văn bản được ban hành.

- Báo cáo tình hình thực hiện ngân sách nhà nước hằng quý, 06 tháng phải được công khai chậm nhất là 15 ngày kể từ ngày kết thúc quý và 06 tháng.

-  Nội dung công khai phải bảo đảm đầy đủ theo các chỉ tiêu, biểu mẫu do Bộ Tài chính quy định.

6. Giám sát ngân sách nhà nước của cộng đồng

- Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp chủ trì tổ chức việc giám sát NSNN của cộng đồng. Nội dung giám sát theo quy định tại điều 16 của Luật NSNN:

a) Việc chấp hành các quy định của pháp luật về quản lý, sử dụng ngân sách nhà nước; b) Tình hình thực hiện dự toán ngân sách nhà nước hằng năm; c) Việc thực hiện công khai ngân sách nhà nước.

7. Các hành vi bị cấm trong lĩnh vực ngân sách nhà nước

1. Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để chiếm đoạt hoặc thiếu trách nhiệm làm thiệt hại đến nguồn thu ngân sách nhà nước.

2. Thu sai quy định của các luật thuế và quy định khác của pháp luật về thu ngân sách; phân chia sai quy định nguồn thu giữa ngân sách các cấp; giữ lại nguồn thu của ngân sách nhà nước sai chế độ; tự đặt ra các khoản thu trái với quy định của pháp luật.

3. Chi không có dự toán, trừ trường hợp quy định tại Điều 51 của Luật này; chi không đúng dự toán ngân sách được giao; chi sai chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi, không đúng mục đích; tự đặt ra các khoản chi trái với quy định của pháp luật.

4. Quyết định đầu tư chương trình, dự án có sử dụng vốn ngân sách không đúng thẩm quyền, không xác định rõ nguồn vốn để thực hiện.

5. Thực hiện vay trái với quy định của pháp luật; vay vượt quá khả năng cân đối của ngân sách.

6. Sử dụng ngân sách nhà nước để cho vay, tạm ứng, góp vốn trái với quy định của pháp luật.

7. Trì hoãn việc chi ngân sách khi đã bảo đảm các điều kiện chi theo quy định của pháp luật.

8. Hạch toán sai chế độ kế toán nhà nước và mục lục ngân sách nhà nước.

9. Lập, trình dự toán, quyết toán ngân sách nhà nước chậm so với thời hạn quy định.

10. Phê chuẩn, duyệt quyết toán ngân sách nhà nước sai quy định của pháp luật

11. Xuất quỹ ngân sách nhà nước tại Kho bạc Nhà nước mà khoản chi đó không có trong dự toán đã được cơ quan có thẩm quyền quyết định, trừ trường hợp tạm cấp ngân sách và ứng trước dự toán ngân sách năm sau quy định tại Điều 51 và Điều 57 của Luật này.

12. Các hành vi bị cấm khác trong lĩnh vực ngân sách nhà nước theo quy định của các luật có liên quan.

III. Nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan nhà nước và trách nhiệm, nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân về NSNN (điều 31- 33)

1. Nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân cấp huyện, xã

- Quyết định: giao Dự toán thu NSNN trên địa bàn và Dự toán chi ngân sách địa phương.

- Quyết định phân bổ: Tổng số; chi đầu tư phát triển và chi thường xuyên theo từng cơ quan, đơn vị thuộc cấp mình theo lĩnh vực; dự phòng ngân sách; Mức bổ sung cho ngân sách từng địa phương cấp dưới trực tiếp.

- Phê chuẩn quyết toán ngân sách địa phương.

- Quyết định các chủ trương, biện pháp để triển khai thực hiện ngân sách địa phương; Quyết định điều chỉnh dự toán ngân sách địa phương trong trường hợp cần thiết.

- Giám sát việc thực hiện ngân sách đã được Hội đồng nhân dân quyết định.

- Bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật về tài chính - ngân sách của UBND cùng cấp và HĐND cấp dưới trực tiếp trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của UBTV Quốc hội và các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên.

- Quyết định danh mục các chương trình, dự án thuộc kế hoạch đầu tư trung hạn nguồn NSNN của ngân sách cấp mình.

2. Nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã:

- Lập dự toán ngân sách địa phương, phương án phân bổ ngân sách cấp mình; dự toán điều chỉnh ngân sách địa phương trong trường hợp cần thiết, trình HĐND cùng cấp quyết định và báo cáo cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan tài chính cấp trên trực tiếp.

- Lập quyết toán ngân sách địa phương trình HĐND cùng cấp phê chuẩn và báo cáo cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan tài chính cấp trên trực tiếp.

- Kiểm tra nghị quyết của HĐND cấp dưới về lĩnh vực tài chính - ngân sách.

-. Căn cứ vào nghị quyết của HĐND cùng cấp, quyết định giao nhiệm vụ thu, chi ngân sách cho từng cơ quan, đơn vị trực thuộc; mức bổ sung cho ngân sách cấp xã.

- Báo cáo, công khai ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật.

- Chủ tịch UBND các cấp tổ chức thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn được giao trong lĩnh vực tài chính - ngân sách và chịu trách nhiệm về những sai phạm thuộc phạm vi quản lý theo quy định của pháp luật.

3. Nhiệm vụ, quyền hạn của đơn vị dự toán ngân sách

- Lập dự toán thu, chi ngân sách hằng năm;

- Tổ chức thực hiện dự toán thu, chi ngân sách được giao; nộp đầy đủ, đúng hạn các khoản phải nộp ngân sách theo quy định của pháp luật; chi đúng chế độ, chính sách, đúng mục đích, đúng đối tượng, bảo đảm tiết kiệm, hiệu quả.

- Chấp hành đúng quy định của pháp luật về kế toán, thống kê; báo cáo, quyết toán ngân sách và công khai ngân sách theo quy định của pháp luật.

- Đối với đơn vị sự nghiệp công lập, ngoài nhiệm vụ, quyền hạn trên được chủ động sử dụng nguồn thu phí và các nguồn thu hợp pháp khác để phát triển và nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động theo quy định của Chính phủ.

- Các đơn vị thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về sử dụng biên chế và kinh phí phải ban hành quy chế chi tiêu nội bộ phù hợp với dự toán được giao tự chủ theo quy định của pháp luật.

- Thủ trưởng các đơn vị dự toán ngân sách thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn được giao trong lĩnh vực tài chính - ngân sách và chịu trách nhiệm về những sai phạm thuộc phạm vi quản lý theo quy định của pháp luật.

4. Nhiệm vụ, quyền hạn của chủ đầu tư

-  Thực hiện các dự án đầu tư qua các giai đoạn của quá trình đầu tư

- Chấp hành đúng các quy định của pháp luật về hợp đồng, kế toán, thống kê, báo cáo, quyết toán, công khai và lưu trữ hồ sơ dự án.

IV. Lập dự toán NSNN hằng năm (chương IV của Luật NSNN và được hướng dẫn chi tiết trong chương III của Nghị định 163/2016/NĐ-CP và Thông tư 342/2016/TT-BTC)

1. Yêu cầu lập dự toán NSNN

- Dự toán NSNN phải tổng hợp theo từng khoản thu, chi và theo cơ cấu chi đầu tư phát triển, chi thường xuyên, dự phòng ngân sách.

- Dự toán ngân sách của đơn vị dự toán ngân sách các cấp được lập phải thể hiện đầy đủ các khoản thu, chi theo đúng biểu mẫu, thời hạn do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định, cụ thể:

+ Dự toán chi đầu tư phát triển được lập trên cơ sở quy hoạch, kế hoạch, chương trình, dự án đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt;

+ Dự toán chi thường xuyên được lập trên cơ sở nhiệm vụ được giao, nhiệm vụ được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt, chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định.

2. Thời gian hướng dẫn lập, xây dựng, tổng hợp, quyết định và giao dự toán ngân sách nhà nước

- Trước ngày 15 tháng 5, Thủ tướng Chính phủ ban hành quy định về việc xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, dự toán NSNN năm sau; trước 01/6 Bộ Tài chính hướng dẫn XD dự toán năm sau; Trước 20/7 hàng năm UBND tỉnh tổng hợp dự toán để báo cáo Bộ Tài chính, Bộ KH & Đầu tư

- Trước ngày 10 tháng 12, HĐND cấp tỉnh quyết định dự toán ngân sách địa phương, phân bổ ngân sách cấp tỉnh năm sau. HĐND cấp dưới quyết định dự toán ngân sách địa phương, phân bổ ngân sách năm sau của cấp mình chậm nhất là 10 ngày, kể từ ngày HĐND cấp trên trực tiếp quyết định dự toán và phân bổ ngân sách.

- Chậm nhất là 05 ngày làm việc, kể từ ngày HĐND quyết định dự toán ngân sách, UBND cùng cấp giao dự toán ngân sách năm sau cho từng cơ quan, đơn vị thuộc cấp mình và cấp dưới; đồng thời, báo cáo UBND và cơ quan tài chính cấp trên trực tiếp.

- Trước ngày 31 tháng 12, các bộ, UBND cấp phải hoàn thành việc giao dự toán ngân sách cho từng cơ quan, đơn vị trực thuộc và UBND cấp dưới.

- Cơ quan tài chính các cấp ở địa phương xem xét dự toán ngân sách của các cơ quan, tổ chức, đơn vị cùng cấp, dự toán ngân sách địa phương cấp dưới; chủ trì phối hợp với cơ quan liên quan trong việc tổng hợp, lập dự toán ngân sách địa phương, phương án phân bổ ngân sách cấp mình theo các chỉ tiêu quy định báo cáo UBND cùng cấp.

- UBND các cấp tổng hợp, lập dự toán ngân sách địa phương báo cáo Thường trực Hội đồng nhân dân cùng cấp xem xét, cho ý kiến.

3. Thảo luận dự toán NSNN, phương án phân bổ ngân sách hằng năm

- Cơ quan tài chính các cấp chủ trì tổ chức:a) Thảo luận về dự toán ngân sách hằng năm với các cơ quan, đơn vị cùng cấp; b) Thảo luận về dự toán ngân sách năm đầu thời kỳ ổn định ngân sách với UBND cấp dưới trực tiếp ;  Đối với các năm tiếp theo của thời kỳ ổn định ngân sách, cơ quan tài chính tổ chức làm việc với UBND cấp dưới trực tiếp khi UBND cấp đó đề nghị.

Trong quá trình thảo luận dự toán ngân sách, phương án phân bổ ngân sách, trường hợp có những khoản thu, chi trong dự toán chưa đúng quy định của pháp luật, chưa phù hợp với khả năng ngân sách và định hướng phát triển kinh tế - xã hội thì cơ quan tài chính yêu cầu điều chỉnh lại, nếu còn ý kiến khác nhau giữa cơ quan tài chính với các cơ quan, đơn vị cùng cấp và Ủy ban nhân dân cấp dưới thì cơ quan tài chính ở địa phương báo cáo Ủy ban nhân dân cùng cấp quyết định;

V. CHẤP HÀNH NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC

1. Phân bổ và giao dự toán ngân sách nhà nước

- Cơ quan tài chính cùng cấp thực hiện kiểm tra dự toán đơn vị dự toán cấp I đã giao cho các đơn vị sử dụng ngân sách. Trường hợp phát hiện việc phân bổ không đúng tổng mức và chi tiết theo từng lĩnh vực, nhiệm vụ của dự toán ngân sách đã được giao; không đúng chính sách, chế độ quy định thì yêu cầu đơn vị dự toán cấp I điều chỉnh lại chậm nhất là 10 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được báo cáo phân bổ của đơn vị dự toán ngân sách.

- Ngoài cơ quan có thẩm quyền giao dự toán ngân sách, không tổ chức hoặc cá nhân nào được thay đổi nhiệm vụ ngân sách đã được giao.

2. Điều chỉnh dự toán đã giao cho các đơn vị sử dụng ngân sách:  Điều chỉnh dự toán ngân sách đã giao trong các trường hợp:

- Do điều chỉnh dự toán ngân sách tổng thể.

- UBND yêu cầu HĐND cấp dưới điều chỉnh dự toán ngân sách nếu việc bố trí ngân sách địa phương không phù hợp với nghị quyết của HĐND cấp trên.

- Điều chỉnh dự toán giữa các đơn vị trực thuộc trong phạm vi tổng mức và chi tiết theo từng lĩnh vực chi được giao.

* Thời gian điều chỉnh dự toán đã giao cho các đơn vị sử dụng ngân sách hoàn thành trước ngày 15 tháng 11 năm hiện hành.

3. Xử lý tăng, giảm thu, chi so với dự toán trong quá trình chấp hành NSNN

- Trường hợp dự kiến thu không đạt thì phải điều chỉnh giảm một số khoản chi .

- Số tăng thu do phát sinh nguồn thu từ dự án mới đi vào hoạt động trong thời kỳ ổn định ngân sách phải nộp về ngân sách cấp trên.

- UBND lập phương án sử dụng số tăng thu và tiết kiệm chi ngân sách cấp mình, báo cáo Thường trực HĐND quyết định và báo cáo HĐND tại kỳ họp gần nhất.

4. Báo cáo tình hình chấp hành ngân sách nhà nước

- Cơ quan tài chính các cấp ở địa phương định kỳ báo cáo UBND cùng cấp và các cơ quan có liên quan về việc thực hiện thu, chi ngân sách địa phương;

- UBND các cấp ở địa phương báo cáo Thường trực HĐND cùng cấp các nội dung   về điều chỉnh dự toán và phương án sử dụng nguồn tăng thu và tiết kiệm chi; báo cáo HĐND cùng cấp tình hình thực hiện ngân sách địa phương tại kỳ họp cuối năm và báo cáo đánh giá bổ sung tại kỳ họp giữa năm sau.

- UBND cấp dưới định kỳ báo cáo cơ quan tài chính cấp trên về thực hiện thu, chi ngân sách địa phương.

5. Quản lý, sử dụng ngân sách của đơn vị sử dụng ngân sách

- Thủ trưởng đơn vị sử dụng ngân sách chịu trách nhiệm về việc quản lý, sử dụng ngân sách theo dự toán được giao, đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ, bảo đảm hiệu quả, tiết kiệm, đúng chính sách, chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi ngân sách.

- Người phụ trách công tác tài chính, kế toán tại đơn vị sử dụng ngân sách có nhiệm vụ thực hiện đúng chế độ quản lý tài chính - ngân sách, chế độ kế toán nhà nước, chế độ kiểm tra nội bộ và có trách nhiệm ngăn ngừa, phát hiện và kiến nghị thủ trưởng đơn vị, cơ quan tài chính cùng cấp xử lý đối với những trường hợp vi phạm.

VI. Kế toán, quyết toán ngân sách nhà nước

1. Trách nhiệm của các đơn vị trong kế toán, quyết toán NSNN

- Các cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có liên quan đến thu, chi ngân sách nhà nước phải tổ chức hạch toán kế toán, báo cáo và quyết toán ngân sách nhà nước theo đúng chế độ kế toán nhà nước và quy định của Luật này.

- Cơ quan tài chính có quyền tạm đình chỉ chi ngân sách của các cơ quan, tổ chức, đơn vị dự toán ngân sách cùng cấp không chấp hành đúng chế độ báo cáo kế toán, quyết toán, báo cáo tài chính khác và chịu trách nhiệm về quyết định của mình.

2. Xử lý thu, chi ngân sách nhà nước cuối năm

- Kết thúc năm ngân sách, các cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có liên quan đến thu, chi ngân sách thực hiện khóa sổ kế toán và lập báo cáo quyết toán NSNN

- Các khoản chi được chuyển nguồn sang năm sau để thực hiện và hạch toán quyết toán vào ngân sách năm sau:

+ Chi tạm ứng XDCB thực hiện chuyển nguồn sang năm sau theo quy định của Luật đầu tư công;

+ Chi mua sắm trang thiết bị đã đầy đủ hồ sơ, hợp đồng mua sắm trang thiết bị ký trước ngày 31 tháng 12 năm thực hiện dự toán;

+ Nguồn thực hiện chính sách tiền lương;

+ Kinh phí được giao tự chủ của các cơ quan, đơn vị sự nghiệp công lập.

- Các khoản được bổ sung sau ngày 30 tháng 9 năm thực hiện dự toán;

- Các khoản tăng thu, tiết kiệm chi để thực hiện CCTL, các chế độ an sinh xã hội được cấp có thẩm quyền quyết định sử dụng vào năm sau thì được chuyển nguồn sang ngân sách năm sau để thực hiện.

* Chính phủ quy định chi tiết việc chuyển nguồn sang ngân sách năm sau theo Thông tư 319/ 2016/TT-BTC.

3. Yêu cầu quyết toán ngân sách nhà nước

- Số liệu quyết toán NSNN phải chính xác, trung thực, đầy đủ.

- Số quyết toán thu ngân sách nhà nước là số thu đã thực nộp và số thu đã hạch toán thu NSNN theo quy định. Các khoản thu thuộc ngân sách các năm trước nộp ngân sách năm sau phải hạch toán vào thu ngân sách năm sau. Số quyết toán chi NSNN là số chi đã thực thanh toán và số chi đã hạch toán chi NSNN theo quy định.

- Số liệu quyết toán ngân sách của đơn vị sử dụng ngân sách, của chủ đầu tư và của ngân sách các cấp phải được đối chiếu, xác nhận với KBNN nơi giao dịch.

- Nội dung báo cáo quyết toán ngân sách nhà nước phải theo đúng các nội dung ghi trong dự toán ngân sách nhà nước được giao và theo mục lục NSNN.

- Báo cáo quyết toán của ngân sách cấp huyện, cấp xã không được quyết toán chi ngân sách lớn hơn thu ngân sách.

- Báo cáo quyết toán của đơn vị sử dụng ngân sách, ngân sách các cấp phải kèm theo thuyết minh đánh giá kết quả, hiệu quả chi ngân sách gắn với kết quả thực hiện nhiệm vụ của đơn vị, địa phương, lĩnh vực, chương trình, mục tiêu được giao phụ trách.

- Báo cáo quyết toán của các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách phải kèm theo thuyết minh đánh giá kết quả, hiệu quả thực hiện nhiệm vụ của quỹ.

- Những khoản thu NSNN không đúng quy định của pháp luật phải được hoàn trả; những khoản thu NSNN nhưng chưa thu phải được truy thu đầy đủ cho ngân sách; những khoản chi NSNN không đúng với quy định phải được thu hồi đủ cho ngân sách.

4. Duyệt quyết toán ngân sách nhà nước

- Việc xét duyệt quyết toán năm được thực hiện theo các nội dung sau:

+ Xét duyệt từng khoản thu, chi phát sinh tại đơn vị;

+ Các khoản thu, chi phải bảo đảm các điều kiện theo quy định của Luật này;

+ Các khoản thu, chi phải hạch toán theo đúng chế độ kế toán nhà nước, đúng mục lục ngân sách nhà nước, đúng niên độ ngân sách;

+ Các chứng từ thu, chi phải hợp pháp, số liệu trong sổ kế toán và báo cáo quyết toán phải khớp với chứng từ và khớp với số liệu của Kho bạc Nhà nước.

5. Cơ quan xét duyệt quyết toán năm:

- Trường hợp đơn vị dự toán cấp I đồng thời là đơn vị sử dụng ngân sách thì cơ quan tài chính cùng cấp duyệt quyết toán ngân sách theo quy định đối với đơn vị dự toán cấp I cùng cấp.

- Khi xét duyệt quyết toán, cơ quan xét duyệt có quyền:

+ Thuê đơn vị kiểm toán độc lập kiểm toán các báo cáo quyết toán của các dự án, chương trình mục tiêu có quy mô lớn để có thêm căn cứ cho việc xét duyệt;

+ Yêu cầu đơn vị nộp ngay các khoản phải nộp ngân sách nhà nước theo quy định và xuất toán các khoản chi sai chế độ, chi không đúng dự toán được duyệt; xử lý theo thẩm quyền hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý đối với thủ trưởng đơn vị chi sai chế độ, gây thất thoát ngân sách nhà nước;

+ Điều chỉnh những sai sót hoặc yêu cầu đơn vị lập lại báo cáo quyết toán nếu thấy cần thiết.

- Kết thúc việc xét duyệt quyết toán năm: Cơ quan tài chính ra thông báo xét duyệt quyết toán đối với các đơn vị dự toán cấp I đồng thời là đơn vị sử dụng ngân sách.

- Thủ trưởng đơn vị xét duyệt quyết toán phải chịu trách nhiệm về kết quả duyệt quyết toán, nếu để xảy ra vi phạm mà không phát hiện hoặc đã phát hiện nhưng không xử lý sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật.

5. Thẩm định quyết toán ngân sách nhà nước:

- Cơ quan tài chính cấp huyện thẩm định quyết toán năm của ngân sách cấp dưới theo các nội dung được quy định tại khoản 3 điều 67, Luật NSNN 2015

- Về thẩm định quyết toán, cơ quan tài chính có quyền:

+ Yêu cầu cơ quan có trách nhiệm xuất toán, thu hồi các khoản chi không đúng chế độ và yêu cầu nộp ngay các khoản phải nộp vào NSNN theo chế độ quy định;

+ Yêu cầu cơ quan xét duyệt quyết toán điều chỉnh lại số liệu quyết toán của đơn vị dự toán ngân sách nếu có sai sót;

+ Yêu cầu hoàn trả hoặc đề nghị cấp có thẩm quyền yêu cầu hoàn trả các khoản đã nộp ngân sách không đúng quy định của pháp luật.

- Kết thúc quá trình thẩm định quyết toán năm, cơ quan tài chính ra thông báo thẩm định quyết toán kèm theo nhận xét, kiến nghị gửi UBND cấp dưới để thực hiện. Trường hợp phát hiện có sai sót yêu cầu UBND cấp dưới trình HĐND cùng cấp điều chỉnh lại số liệu quyết toán.

6. Lập quyết toán NSNN của đơn vị dự toán ngân sách và chủ đầu tư

- Đơn vị sử dụng ngân sách lập quyết toán thu, chi NSNN của đơn vị mình gửi cơ quan dự toán cấp trên trực tiếp; đơn vị dự toán cấp I gửi cơ quan tài chính cùng cấp.

- Kết thúc năm ngân sách Chủ đầu tư các chương trình, dự án  phải báo cáo quyết toán nguồn vốn sử dụng, quyết toán nguồn vốn ngân sách, tình hình sử dụng vốn và giá trị khối lượng hoàn thành đã được quyết toán trong năm, gửi cơ quan cấp phát vốn đầu tư xây dựng cơ bản, cơ quan cấp trên của chủ đầu tư và cơ quan tài chính cùng cấp;

- Khi chương trình, dự án hoàn thành phải lập báo cáo quyết toán toàn bộ nguồn vốn, quyết toán nguồn vốn ngân sách kèm theo báo cáo thuyết minh tình hình sử dụng vốn gửi cơ quan cấp phát vốn đầu tư xây dựng cơ bản và cơ quan có thẩm quyền xét duyệt báo cáo quyết toán công trình xây dựng cơ bản, chương trình, dự án theo chế độ quy định;

7. Thời hạn và trình tự quyết toán ngân sách địa phương

- Cơ quan tài chính ở địa phương tổng hợp, lập quyết toán ngân sách địa phương trình UBND cùng cấp.

- UBND gửi báo cáo quyết toán ngân sách địa phương đến Ban của HĐND cùng cấp để thẩm tra; đồng thời gửi cơ quan tài chính cấp trên trực tiếp.

- UBND báo cáo Thường trực HĐND cùng cấp quyết toán ngân sách địa phương để cho ý kiến trước khi trình HĐND.

- Báo cáo quyết toán ngân sách của UBND và báo cáo thẩm tra của Ban của HĐND được gửi đến các đại biểu HĐND cùng cấp chậm nhất là 05 ngày làm việc trước ngày khai mạc kỳ họp giữa năm sau của HĐND.

- HĐND cấp huyện, xã xem xét, phê chuẩn báo cáo quyết toán ngân sách cấp mình, gửi UBND cấp trên chậm nhất là 05 ngày làm việc, kể từ ngày báo cáo quyết toán được phê chuẩn. UBND cấp tỉnh tổng hợp, lập quyết toán ngân sách địa phương trình

 

 

 

 

 



[1] Chiếm bình quân khoảng 12-15% tổng thu NSNN.

[2] Chiếm bình quân khoảng 15-20% tổng thu NSNN.

[3] Luật NSNN năm 2002 quy định chi NSNN bao gồm chi trả nợ gốc và lãi các khoản tiền do Chính phủ vay. Bội chi NSNN bao gồm toàn bộ các khoản vay để bù đắp chênh lệch thu, chi NSNN. Theo đó, phần vay được phản ánh 2 lần trong chi ngân sách: Lần thứ nhất sử dụng nguồn vay để chi ngân sách, lần thứ hai chi trả nợ gốc khi đến hạn. Do đó, mức bội chi NSNN của Việt Nam thường cao hơn so với phương pháp tính bội chi ngân sách theo thông lệ quốc tế. NSĐP không được phép bội chi, nhưng ngân sách cấp tỉnh được phép huy động để đầu tư các án đầu tư cơ sở hạ tầng thuộc nhiệm vụ chi của NSĐP

[4] Theo Luật NSNN năm 2002, thuế thu nhập doanh nghiệp của các đơn vị hạch toán toàn ngành là khoản thu NSTW hưởng 100%, tuy nhiên, khoản thu thuế thu nhập doanh nghiệp của các đơn vị hạch toán toàn ngành do nhiều địa phương đóng góp, nên các địa phương kiến nghị đưa vào khoản thu phân chia giữa NSTW và NSĐP. Mặt khác, khái niệm doanh nghiệp hạch toán toàn ngành trên thực tế đã không còn phù hợp, dẫn đến trong tổ chức thực hiện sẽ không thống nhất giữa các doanh nghiệp có cùng một hình thức tổ chức bộ máy, phương thức hạch toán.

[5] Luật NSNN năm 2002 quy định khoản tăng thu, tiết kiệm chi so với dự toán được sử dụng để giảm bội chi, tăng chi trả nợ, tăng chi đầu tư phát triển, bổ sung Quỹ dự trữ tài chính, tăng dự phòng ngân sách

[6] Luật NSNN năm 2002 quy định trong trường hợp thu NSĐP không đạt dự toán được cấp có thẩm quyền quyết định thì tuỳ theo mức hụt thu, UBND báo cáo HĐND hoặc Thường trực HĐND điều chỉnh hoặc sắp xếp lại các khoản chi, sử dụng các nguồn lực tài chính hợp pháp tại địa phương để bù đắp số hụt thu. Tuy nhiên, trong quá trình tổ chức thực hiện nếu NSĐP hụt thu (giảm lớn do những nguyên nhân khách quan: dự án nhà máy đi vào hoạt động chậm hơn dự kiến kế hoạch; Nhà nước thay đổi chính sách thu, thực hiện miễn giảm thuế,...) mà NSTW không hỗ trợ thì địa phương sẽ rất khó khăn. Thực tế trong những năm qua đối với những địa phương bị hụt thu NSĐP do nguyên nhân khách quan, Chính phủ đã báo cáo Ủy ban thường vụ Quốc hội, Quốc hội hỗ trợ một phần cho địa phương bị hụt thu, tuy nhiên do chưa được quy định trong Luật NSNN nên khi tổ chức thực hiện chưa đủ cơ sở pháp lý

[7] Luật NSNN năm 2002 chưa quy định cụ thể nội dung duyệt, thẩm định quyết toán ngân sách, mặt khác quy định cơ quan tài chính cấp trên, nhất là Bộ Tài chính có trách nhiệm thẩm định quyết toán NSĐP đã được HĐND cấp tỉnh phê chuẩn, dẫn đến trách nhiệm, quyền hạn giữa cơ quan tài chính cấp trên với HĐND cấp dưới chưa thật rõ trong công tác này; khi phát hiện sai sót, cơ quan tài chính cấp trên yêu cầu điều chỉnh thì HĐND cấp dưới không thực hiện được mà phải chờ đến kỳ họp sau (vì HĐND các cấp chỉ họp 2 kỳ/năm).

[8] Luật NSNN năm 2002 chưa có quy định hàng năm, các cơ quan, đơn vị sử dụng ngân sách và các cấp ngân sách khi quyết toán ngân sách phải kèm theo thuyết minh kết quả thực hiện ngân sách gắn với việc thực hiện nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị, cấp mình; chưa có quy định hàng năm, các cơ quan nhà nước được phân công quản lý chương trình mục tiêu quốc gia, các chương trình, dự án trọng điểm tổng hợp, báo cáo kết quả thực hiện ngân sách gắn với việc thực hiện nhiệm vụ của chương trình, dự án. 

 Liên hệ - Góp ý  Quay lại!

Bình luận của bạn:

Bình luận bạn đọc (0)

CÁC TIN KHÁC
TÀI LIỆU TUYÊN TRUYỀN PHÁP LUẬT THÁNG 7 NĂM 2018 (10/7/2018)
TÀI LIỆU TUYÊN TRUYỀN TRÊN HỆ THỐNG LOA TRUYỀN THANH CƠ SỞ KỲ 2 THÁNG 6 NĂM 2018 (13/6/2018)
TÀI LIỆU TUYÊN TRUYỀN TRÊN HỆ THỐNG LOA TRUYỀN THANH CƠ SỞ KỲ 1 THÁNG 6 NĂM 2018 (13/6/2018)
TÀI LIỆU TUYÊN TRUYỀN TRÊN HỆ THỐNG LOA TRUYỀN THANH CƠ SỞ KỲ 2 THÁNG 5 NĂM 2018 MỘT SỐ CHÍNH SÁCH MỚI CÓ HIỆU LỰC THI HÀNH TỪ NGÀY 01/4/2018 (16/5/2018)
TÀI LIỆU TUYÊN TRUYỀN TRÊN HỆ THỐNG LOA TRUYỀN THANH CƠ SỞ KỲ 2 THÁNG 5 NĂM 2018 MỘT SỐ CHÍNH SÁCH MỚI CÓ HIỆU LỰC THI HÀNH TỪ NGÀY 01/4/2018 (16/5/2018)
Một số chính sách mới có hiệu lực thi hành từ ngày 01/4/2018 (7/5/2018)
TÀI LIỆU TUYÊN TRUYỀN TRÊN HỆ THỐNG LOA TRUYỀN THANH CƠ SỞ THÁNG 04 NĂM 2018 (7/5/2018)
ĐỀ CƯƠNG GIỚI THIỆU BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 2015 (26/1/2018)
NỘI DUNG CƠ BẢN LUẬT NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC SỐ 83/2015/QH13 (9/10/2017)
Thông báo
PHÁT THANH - TRUYỀN HÌNH

  

Copyright 2018 by UBND THỊ XÃ QUẢNG TRỊ - QUẢNG TRỊ