Giảm sinh-nhiệm vụ hàng đầu của công tác dân số


Ngày cập nhật: 04/06/2009 2:53:26 CH

 (QT) - Công tác dân số có mối quan hệ hết sức khăng khít, ràng buộc với sự phát triển kinh tế-xã hội. Và trong công tác dân số, vấn đề giảm sinh để ổn định quy mô là nhiệm vụ hàng đầu. 

Từ xưa, cha ông ta đã có câu "tăng điền không bằng giảm khẩu". Trong phạm vi hẹp có thể hiểu rằng muốn phát triển nhất thiết phải giảm sinh. Đó cũng là lý do vì sao một trong ba mục tiêu của Chiến lược Dân số Quốc gia, quy mô dân số được xếp ở vị trí thứ nhất. 

Mặt khác, điều kiện cần để công tác dân số phát triển bền vững thì trước hết phải là quy mô dân số. Để có quy mô dân số phù hợp điều kiện của mỗi quốc gia người ta có thể thực hiện chính sách giảm sinh, hay khuyến khích sinh miễn là đảm bảo quy mô dân số đó có ý nghĩa quyết định đến phân bổ dân cư và nâng cao chất lượng dân số. 

Chính vì lẽ đó, ưu tiên hàng đầu của Chiến lược Dân số Việt Nam giai đoạn 2001-2010 là: "Duy trì vững chắc xu thế giảm sinh để đạt mức sinh thay thế bình quân trong toàn quốc chậm nhất là vào năm 2005; ở vùng sâu, vùng xa và vùng nghèo chậm nhất vào năm 2010..."

Khỏe để bảo vệ Tổ quốc. Ảnh: Thành Dũng
Theo tinh thần đó, trong những năm qua, đặc biệt từ năm 1993, khi Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VII ra đời, tốc độ gia tăng dân số Việt Nam đã được kiềm chế. 

Tỷ lệ phát triển dân số từ 2,1 % năm 1993 giảm còn 1,21% vào năm 2007; số con trung bình của một phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ giảm xuống còn 2,07, gần sát mức sinh thay thế và đạt mức thấp so với nhiều nước trong khu vực Đông Nam Á. Tuy nhiên, hiện nay nước ta vẫn là nước đông dân thứ hai ở Đông Nam Á và thứ 3 trên thế giới. 

Cùng với cả nước sau nhiều năm phấn đấu bền bỉ, tỷ lệ tăng dân số tự nhiên ở Quảng Trị đã giảm mạnh từ 2,35% năm 1990 xuống còn 1,12% năm 2008. Với kết quả này, chúng ta đã khống chế quy mô dân số toàn tỉnh vào khoảng 64 vạn người, thấp hơn nhiều so với mục tiêu đề ra. Đây cũng là cơ sở, là điều kiện để chúng ta làm tốt công tác phân bổ dân cư hợp lý và từng bước nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá- hiện đại hoá. 

Tuy nhiên, cũng phải nhận thấy rằng mức sinh tuy giảm nhanh nhưng không đồng đều giữa các vùng. Một số địa bàn tỷ suất sinh còn cao, nhất là ở những vùng khó khăn, đặc biệt, tỷ lệ người sinh con thứ 3 trở lên giảm nhưng rất chậm. 

Điều này, đã làm cho việc nâng cao chất lượng dân số, làm thay đổi cơ cấu dân số và phân bổ dân cư tạo động lực thúc đẩy phát triển kinh tế- xã hội vẫn còn bất cập. Có một thực tế rất đáng quan tâm là hiện nay đa số những gia đình kinh tế còn khó khăn, thậm chí rất khó khăn và những gia đình con cái đã trưởng thành và tương đối khá giả lại muốn đẻ thêm con. 

Vấn đề này do nhiều nguyên nhân, nhưng nguyên nhân chủ yếu vẫn là những người trong độ tuổi sinh đẻ chưa thấy hết quyền và nghĩa vụ trong việc thực hiện cuộc vận động dân số và kế hoạch hoá gia đình, chăm sóc sức khoẻ sinh sản.
 
Vì vậy, trong thực tế nhiều gia đình chỉ nghĩ đơn giản rằng sinh thêm con để "có nếp có tẻ”, thoả mãn nhu cầu tinh thần có con trai để nối dõi tông đường, hoặc tư duy "đông con hơn đông của", nếu có ảnh hưởng thì chỉ ảnh hưởng đến "cơm, áo, gạo, tiền gia đình mình" mà chưa nghĩ đến lợi ích toàn cục, của cộng đồng và toàn xã hội. 

Các nhà khoa học khi nghiên cứu mối quan hệ giữa dân số và kinh tế đã cho rằng cứ tăng 1% dân số thì phải tăng 4% GDP, đó là chưa kể khi dân số tăng thì phải giải quyết nhiều vấn đề xã hội khác liên quan. Cho nên việc tăng dân số tràn lan không chỉ ảnh hưởng đến đời sống của từng gia đình, cộng đồng và cao hơn tiến độ thực hiện kế hoạch, quy hoạch kinh tế -xã hội và chất lượng nguồn nhân lực cho thời kỳ CNH-HĐH đất nước. 

Quá trình thực hiện cuộc vận động quy mô gia đình nhỏ trong gần 50 năm qua đã cho chúng ta bài học, đó là muốn đạt các mục tiêu dân số phải trên cơ sở chủ động, tự nguyện, bình đẳng của mỗi cá nhân, gia đình. Công tác DS-KHHGĐ chỉ thành công và thật sự vững chắc khi mỗi cá nhân, gia đình chủ động tự nguyện. 

Mỗi người phải đặt lợi ích cá nhân, gia đình trong lợi ích của toàn xã hội bằng việc thực hiện gia đình ít con, ấm no, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc. Thực tiễn đã cho thấy, một xã hội văn minh, phải là một xã hội biết quản lý và điều chỉnh quy mô dân số của mình một cách hợp lý, đầu tư cho công tác DS-KHHGĐ là đầu tư mang lại hiệu quả trực tiếp rất cao”, thực hiện kế hoạch hoá gia đình mới có thể xây dựng “Gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc”, phát triển đất nước, đưa đất nước đi đến giàu mạnh, văn minh. 

Để nhận thức đó trở thành hành động của toàn xã hội, nhiệm vụ quan trọng có tính quyết định là phải tăng cường hơn nữa công tác truyền thông chuyển đổi nhận thức kết hợp với công tác tư vấn, dịch vụ DS-KHHGĐ. 

Lâu nay, trong công tác truyền thông chúng ta chủ yếu nhằm vào đối tượng trực tiếp sinh đẻ đó là người phụ nữ hoặc cả hai vợ chồng. Trong lúc đó, thực tế áp lực của người phụ nữ dẫn đến hành vi sinh đẻ và đẻ nhiều không chỉ các cặp vợ chồng quyết định mà còn là bố, mẹ chồng và cả dòng họ. Cho nên, vấn đề đặt ra là phải đổi mới công tác truyền thông không chỉ ở nội dung mà còn mở rộng đối tượng. Có như thế, công tác dân số mà trước hết là mục tiêu giảm sinh mới bền vững. 

Trước mắt cũng như lâu dài phải làm cho tất cả mọi người dân hiểu được công tác dân số là một nội dung quan trọng để nâng cao chất lượng cuộc sống từng người, từng gia đình và toàn xã hội; chỉ khi từng gia đình thấu hiểu và tự giác thực hiện quy mô gia đình nhỏ thì xã hội mới có quy mô dân số hợp lý. Đó chính là nhiệm vụ hàng đầu của công tác dân số trong thời điểm hiện nay. 

                            Nguyễn Trí Ánh

 Liên hệ - Góp ý  Quay lại!

Bình luận của bạn:

Bình luận bạn đọc (0)

CÁC TIN KHÁC
Thông báo
PHÁT THANH - TRUYỀN HÌNH

  

Copyright 2018 by UBND THỊ XÃ QUẢNG TRỊ - QUẢNG TRỊ